Lưu ý khi sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ

Không ít cha mẹ khi thấy con sốt, ho, chảy mũi liền hỏi bạn bè hoặc tự ra hiệu thuốc mua thuốc kháng sinh cho con uống. Việc mua thuốc kháng sinh tùy tiện, sử dụng tràn lan, không cần có đơn của bác sĩ… là một nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của một số loại vi khuẩn kháng hầu hết các loại kháng sinh hiện có.

THUỐC KHÁNG SINH LÀ GÌ?

Thuốc kháng sinh là những hợp chất hóa học – không kể nguồn gốc – có tác động chuyên biệt trên một giai đoạn chuyển hoá thiết yếu của vi sinh vật. Với liều điều trị, thuốc kháng sinh có thể kìm hãm hoặc tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh. Do đó, chúng ta thường cho trẻ dùng thuốc kháng sinh khi có các bằng chứng cho thấy trẻ mắc bệnh do vi khuẩn gây nên.

Việc xác định các bằng chứng này thường do bác sĩ khám thực tế và căn cứ vào một số xét nghiệm đơn giản. Các trường hợp trẻ viêm đường hô hấp nhưng có thể do virus thì việc sử dụng thuốc kháng sinh hoàn toàn không có hiệu quả.

Ở Mỹ đã xuất hiện vi khuẩn siêu kháng sinh vào tháng 5/2016. Ở Việt Nam, gần đây cũng đã xuất hiện một số loại vi khuẩn kháng thuốc. Việc dùng kháng sinh bừa bãi chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó đồng thời dẫn tới những tác dụng phụ mà chỉ có thể phát hiện sau nhiều năm dùng thuốc.

Dùng kháng sinh bừa bãi chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng thuốc

Dùng kháng sinh bừa bãi chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng thuốc

NGUYÊN TẮC DÙNG THUỐC KHÁNG SINH CHO TRẺ

Chỉ dùng thuốc kháng sinh khi trẻ mắc bệnh do nhiễm vi khuẩn

Cần phân biệt nhiễm vi khuẩn với nhiễm siêu vi vì kháng sinh không có hiệu quả đối với virus. Để xác định nhiễm khuẩn cần dựa vào kết quả kháng sinh đồ. Các xét nghiệm thường cho kết quả tin cậy nhưng không phải bao giờ cũng có điều kiện để làm. Trường hợp không làm được kháng sinh đồ có thể dựa vào kết quả thăm khám lâm sàng. Chụp X-quang phổi cũng có thể nhận định được tình trạng viêm phổi do vi khuẩn hay virus.

Trẻ mắc bệnh do vi khuẩn thường sốt cao, da xanh tái, mệt mỏi, ăn kém, không chịu chơi ngay cả khi đỡ sốt. Xuất hiện các ổ nhiễm khuẩn gây sưng, nóng, đỏ, đau, có mủ trên da, ở họng, ở tai… hoặc các bệnh do virus nhưng có bội nhiễm thêm vi khuẩn như nhiễm trùng da sau khi mắc thủy đậu…

Chọn đúng kháng sinh

Hạn chế dùng kháng sinh phổ rộng hoặc phối hợp nhiều kháng sinh. Trước khi điều trị cần xác định đúng tác nhân gây bệnh để chọn một thuốc kháng sinh tốt nhất.

Lựa chọn thuốc kháng sinh dựa vào các cơ sở sau:

  • Phổ hoạt tính: Tốt nhất nên làm kháng sinh đồ để xác định chính xác. Có thể dựa vào kinh nghiệm lâm sàng.
  • Tính chất dược động học:Dựa vào khả năng kháng sinh tập trung vào ổ nhiễm trùng: họ -Lactam, Aminosid, Quinolon tập trung nhiều ở nước tiểu; Phenicol, Ampicillin tập trung ở đường mật; Ampicillin, Sulfonamid tập trung ở dịch não tuỷ…
  • Nơi nhiễm trùng:Đây là yếu tố quan trọng nhất để chọn loại kháng sinh, đường dùng, liều dùng nhằm đạt hiệu quả cao và hạn chế tác dụng phụ ở mức thấp nhất.
  • Tình trạng người bệnh: Dựa vào tuổi tác, chức năng gan, thận, tình trạng bệnh để hạn chế các tác dụng không mong muốn.

Sử dụng đúng liều lượng

Dùng liều thấp không đủ nồng độ thuốc trong máu để đảm bảo hiệu lực. Dùng liều cao có nguy cơ xảy ra ngộ độc. Cha mẹ nên tính liều theo cân nặng, tuổi, diện tích da. Với những thuốc có cửa sổ điều trị hẹp nên áp dụng theo cách tính diện tích da. Cách tính phổ biến nhất là theo trọng lượng cơ thể. Dùng liều tấn công ngay từ đầu, không tăng, không giảm liều. Dùng liên tục, không ngắt quãng, để đảm bảo nồng độ thuốc trong máu luôn ở mức có hiệu lực kháng khuẩn. Tốt nhất nên tuân theo chỉ định của bác sĩ.

Dùng đúng thời gian quy định

Nguyên tắc chung khi dùng thuốc kháng sinh là dùng đến khi sạch vi trùng. Ở người bình thường, thời gian cần thiết để kháng sinh phát huy tác dụng và có đáp ứng trên lâm sàng là 2 ngày. Lưu ý rằng thời gian từ lúc “sạch lâm sàng” đến khi “sạch xét nghiệm” khoảng 3-5 ngày đối với người bình thường. Vì vậy, phải dùng thuốc kháng sinh tối thiểu là 5 – 7 ngày.

Chỉ phối hợp khi thật cần thiết

Cha mẹ cần lưu ý, phối hợp kháng sinh chỉ đặt ra trong các tình huống trẻ nhiễm nhiều loại vi khuẩn; nhiễm khuẩn nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn có nguy cơ đe dọa tính mạng mà chưa có kết quả kháng sinh đồ; phối hợp để tăng hoạt lực kháng khuẩn của thuốc, ngăn chặn nguy cơ kháng thuốc khi sử dụng lâu dài…

Ngày nay, do sự xuất hiện nhiều loại thuốc kháng sinh phổ rộng và các dạng chế phẩm phối hợp nên ngoài các tình huống trên, hạn chế tối đa việc phối hợp kháng sinh bởi vì việc phối hợp gây ra nhiều bất lợi.

Mặt khác, cơ thể trẻ còn non nớt, chức năng các cơ quan như gan, thận còn chưa hoàn thiện, mà các thuốc sử dụng đều thải qua gan, thận, nên khi dùng nhiều loại thuốc thì có thể gây ảnh hưởng xấu, suy giảm chức năng các cơ quan này.

Ngoài ra, nếu lần sau trẻ ốm mà có một số triệu chứng giống như lần trước thì cũng không nên dùng lại đơn thuốc cũ, vì có thể trẻ mắc bệnh do loại vi khuẩn khác, bệnh khác.

Để chữa bệnh cho trẻ an toàn, tránh các tác dụng phụ, giảm chi phí điều trị… cha mẹ nên đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế, bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn về chăm sóc và phát hiện dấu hiệu của bệnh, cũng như tình trạng nhiễm khuẩn ở trẻ để sử dụng thuốc kháng sinh hợp lý.

Minh Huệ